Monday, 23/09/2019 - 00:23|
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ CỦA SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TỈNH TUYÊN QUANG
A- A A+ | Chia sẻ bài viết lên facebook Chia sẻ bài viết lên twitter Chia sẻ bài viết lên google+ Tăng tương phản Giảm tương phản

04. Chiến thắng Km số

Thu đông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và tiêu diệt quân chủ lực của ta, kết thúc chiến tranh xâm lược, lập lại ánh thống trị thực dân. 06/02/2012   |     |  
 


          Thu đông năm 1947, thực dân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc hòng tiêu diệt cơ quan đầu não kháng chiến và tiêu diệt quân chủ lực của ta, kết thúc chiến tranh xâm lược, lập lại ánh thống trị thực dân.      

Ảnh: Đình Thuận

Địch huy động một lực lượng tấn công lên Việt Bắc gồm 5 trung đoàn bộ binh, 3 tiểu đoàn dù, 2 tiểu đoàn pháo binh, 2 tiểu đoàn công binh, 3 đại đội cơ giới với 800 xe, 2 phi đội với 40 máy bay, 1 thuỷ đội với 40 tàu chiến, ca nô và một số đơn vị lính thuỷ đánh bộ, tổng cộng 12.000 tên với đủ các binh chủng hải, lục, không quân. Binh đoàn hỗn hợp gồm bộ binh và lính thuỷ đánh bộ do Commuynan chỉ huy từ Hà Nội, theo nhiều đường đánh chiếm thị xã Tuyên Quang, thị trấn Chiêm Hoá tạo thành gọng kìm phía tây.

            Riêng gọng kìm phía tây địch có 3.000 tên, gồm trung đoàn bộ binh thuộc địa số 43, 1 đơn vị thuộc binh đoàn Commăngđô, 1 đơn vị pháo binh, 1 đơn vị không quân, 1 thuỷ đội gồm 40 tàu (có 15 chiếc LCT, LGM, 25 chiếc LCVP), một số xà lan. Trong lúc đó các tiểu đoàn nhảy dù dự bị tập kết tại sân bay, sẵn sàng đổ bộ xuống nơi phát hiện có cơ quan đầu não kháng chiến.

            Ở vào vị trí trung tâm An toàn khu của căn cứ địa Việt Bắc, Tuyên Quang là một trọng điểm càn quét của quân Pháp. Địch dự kiến vào ngày 03-10-1947, hai cánh quân sẽ gặp nhau ở Bản Thi, Chợ Đồn, khép hai gọng kìm lại, hình thành những mũi thọc sâu vào trung tâm căn cứ địa Việt Bắc. Bộ chỉ huy quân đội Pháp kỳ vọng rất lớn vào kế hoạch tiến công Việt Bắc, chúng dự tính trong 3 tuần lễ chiến dịch sẽ kết thúc.

            Ngày 15-10-1947, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “phải phá tan cuộc tấn công mùa đông của giặc pháp”, nhận địch cuộc tấn công của địch không chứng tỏ chúng mạnh mà tỏ ra chúng yếu, phải mạo hiểm. Với tư tưởng chỉ đạo “không sợ địch nhưng không khinh địch”, Chỉ thị nhấn mạnh “ta phải trấn tĩnh đối phó, phải giữ gìn chủ lực, nhưng đồng thời cũng phải nhè những chỗ yếu của địch mà đánh những trận vang dội, những trận tiêu hao để nâng cao tinh thần bộ đội và củng cố lòng tin của nhân dân ở tiền đồ cuộc kháng chiến”. Đồng thời Chỉ thị cũng đề ra nhiệm vụ của quân dân Việt Bắc và cả nước là phải làm cho địch thiệt hại nặng nề, không gượng lại được sau chiến dịch và buộc chúng phải chuyển sang thế thủ.

Ảnh: Đình Thuận

Trung ương nhận định về tương quan lực lượng, địch tuy chiếm ưu thế về số lượng, vũ khí và trình độ tác chiến song chúng phải chiến đấu trên địa bàn rừng núi lạ, xa căn cứ, đội hình bị trải rộng, kéo dài. Đây chính là điểm yếu căn bản của quân Pháp mà ta cần khai thác để đánh, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng.

            Đảng bộ và nhân dân Tuyên Quang xác định rõ nhiệm vụ quan trọng và hết sức nặng nề là phải đánh thắng giặc, bảo vệ an toàn lãnh tụ, cơ quan Trung ương, các cơ sở kháng chiến đóng trên địa bàn tỉnh. Trước ngày địch tấn công lên Tuyên Quang, quán triệt Chỉ thị của Trung ương Đảng, của Khu uỷ Khu 10, thị xã Tuyên Quang đã triệt để tiêu thổ kháng chiến, tại những vùng địch có thể tấn công hoặc hành quân qua, nhân dân đều dựng lán trại bí mật sâu trong rừng. Bộ tư lệnh Khu 10 đã điều Trung đoàn 112 Hà Tuyên bố trí lực lượng đánh chặn địch từ thị xã Tuyên Quang đến thị trấn Chiêm Hoá, 1 tiểu đoàn tăng cường do Trung đoàn trưởng Bế Xuân Cương chỉ huy triển khai lực lượng từ Tuyên Quang đến bến Bợ, Hàm Yên; 1 tiểu đoàn do Chính uỷ Trung đoàn Lê Thuỳ chỉ huy triển khai đội hình từ bến Bợ đến Chiêm Hoá. Các đơn vị pháo binh của Khu 10 sẵn sàng cơ động bố trí trận địa ở những nơi hiểm yếu dọc sông Lô.

            Cùng các đơn vị chủ lực, lực lượng vũ trang địa phương sẵn sàng chiến đấu, làm phá sản kế hoạch tấn công lên Việt Bắc của địch.

            Tỉnh uỷ và Trung đoàn 112 đã họp bàn lên kế hoạch phối hợp tác chiến giữa lực lượng địa phương và chủ lực. Trong đó các đơn vị của Trung đoàn 112 chịu trách nhiệm vận động bám sát các hướng hành quân của địch, tổ chức các trận đánh lớn tiêu diệt chủ lực của chúng. Lực lượng cảnh vệ và du kích, tự vệ của tỉnh chịu trách nhiệm bảo vệ cơ quan lãnh đạo địa phương, giúp nhân dân sơ tán, đồng thời tham gia phục vụ chiến đấu cũng như bám chốt tại chỗ đánh du kích, quấy nhiễu địch buộc chúng phải dàn quân mỏng, tạo kẽ hở để ta tiêu diệt. Chiến dịch phản công của quân dân ta với cách đánh du kích và vận động chiến đã làm cho các binh đoàn của Pháp càng đi sâu vào căn cứ địa Việt Bắc càng bị chia cắt và hao mòn.

            Đại đội Tự vệ do đồng chí Phùng Thiệu chỉ huy làm nhiệm vụ bảo vệ Thị uỷ, Uỷ ban nhân dân hành chính kháng chiến thị xã tại Xuân Huy, Chân Sơn  đã tham gia tiêu thổ kháng chiến, đánh sập cầu Đen (Km4), Cầu Km6, cầu Km7 trên quốc lộ 2.

            Nắm được kế hoạch hành quân của địch, đơn vị bố trí trận đánh bằng địa lôi tại Km 7. Địa lôi được cải tạo từ những quả bom của địch. Các chiến sỹ tự vệ phải chuẩn bị trận địa, đào hầm trú ẩn, hố chôn địa lôi vào ban đêm. Có tất cả 4 quả địa lôi, bố trí như sau: Một quả chôn ở ngã ba lối vào làng Hoàng Pháp, đề phòng địch không đi đường lớn do Nguyễn Hữu Vỵ và Lỗ Văn Thìn phụ trách. Quả thứ hai chôn ở vệ đường bên trái, do Chu Đức Thọ và Lý Văn Tỵ phụ trách. Quả thứ 3 chôn bên vệ đường bên phải do Trịnh Thế Chính, Trịnh Yên Thái phụ trách. Quả thứ tư chôn cùng phía và cách quả thứ 3 khoảng 100m do Bùi Đức Cận, Trịnh Văn Để phụ trách. Mỗi nhóm được trang bị một khẩu súng khai hậu (loại súng bắn từng viên một) để tự vệ. Bốn quả địa lôi được chôn với khoảng cách hợp lý, bán kính sát thương của mỗi quả là 50m. Dây dẫn từ kíp đến nơi phát nổ là dây thép trần, dài khoảng 30m. Một đầu dây gắn với cực âm của 4 quả pin, một đầu để hở sẵn sàng. Cách nơi chôn địa lôi hơn 30m là các hầm trú ẩn dành cho các chiến sĩ phụ trách phát hoả.

            Chiến sĩ Nguyễn Hữu Chi vừa chỉ huy trận đánh vừa làm nhiệm vụ quan sát, cảch giới. Từ vị trí chỉ huy có sợi dây sắn rừng ròng đến hầm của chiến sỹ Cân và Để. Sợi dây là phương tiện liên lạc chỉ huy chiến đấu. Cùng với các chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, còn có một số chiến sĩ làm nhiệm vụ trợ chiến và một đại đội thuộc Tiểu đoàn 508 bộ đội chủ lực đóng tại làng Mon.

            Sáng ngày 22-10-1947, tiểu đoàn địch 500 tên do Thiếu tá Lơgiốt chỉ huy với khoảng 50 lừa, ngựa từ thị xã Tuyên Quang đi lên. Gặp cây cầu bị đánh sập, tốc độ hành quân của chúng bị chậm lại, các đại đội phía sau dồn lên, đứng đầy trên ba quả địa lôi mà không hề hay biết.

            Khi thấy số lượng địch dồn lại đông nhất, thời cơ đã đến, Nguyễn Hữu Chi giật sợi dây sắn rừng lần thứ nhất làm ám hiệu chuẩn bị. Chiến sĩ Cận và Để nhận được tín hiệu liền kiểm tra lại pin, dây. Dây giật lần thứ hai, hai chiến sĩ liền chập điện, tiếng nổ khủng khiếp vang lên hầu như cùng một lúc, rung chuyển rừng núi; đất đá, cát bụi bay mù mịt. Trận địa ngổn ngang, quân địch kêu rên, la thét, đội ngựa thồ hốt hoảng tháo chạy. Một bộ phận đại đội 1 và gần hết đại đội 2 của địch bị tiêu diệt. Lợi dụng lúc địch còn đang bi tê liệt, các chiến sĩ tự vệ có sự yểm trợ của bộ phận trợ chiến nhanh chóng rút lui. Riêng hai chiến sĩ Thọ và Tỵ chưa kịp rút lui thì địch đã kịp ổn định đội hình. Hai chiến sĩ phải ở lại hầm trú ẩn trong vòng vây của địch đến chiều tối mới rút về Hoàng Pháp.

Khoảng 4 giờ chiều, địch mới thu dọn xong xác chết và băng bó cho những tên bị thương, bỏ lại nhiều vũ khí, quân trang, vội vã rút về thị xã Tuyên Quang.

Tiểu đoàn Lơgiốt tháo chạy hoảng loạn, đến Km5 bị đại đội chủ lực tập kích tiêu diệt 30 tên.

Trận địa lôi làm địch chết 70 tên, bị thương 30 tên; gây cho chúng nỗi kinh hoàng, khiếp sợ. Lơgiốt thừa nhận: “ Những trận phục kích của đối phương được bố trí rất khéo, đánh trúng đại đội 2 của chúng ta mới ngày 22-10-1947...Đại đội 2 do đại uý Săngtuýt chỉ huy đã rước lấy cái chết với bao xác trong con suối cạn đầy tiếng nổ hoả ngục”

Trận đánh địa lôi Km7 diễn ra nhanh gọn, thắng giòn giã làm nức lòng quân dân Việt Bắc, củng cố niềm tin có thể đánh thắng quân địch trang bị hiện đại bằng lòng quả cảm và tinh thần sáng tạo.

Chiến thắng Km7 được đồng chí Võ Nguyên Giáp đánh giá là một trong mười trận thắng lớn của chiến dịch Việt Bắc - Thu Đông 1947.

Phòng Giáo dục Trung học, Sở GD&ĐT Tuyên Quang sưu tầm

Nguồn: Quan Văn Dũng(chủ biên)- Tuyên Quang - Thủ đô kháng chiến. NXB Văn hóa dân tộc. Hà Nội, 2009.





Thông tin đã đăng


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết